Hoàn thiện pháp luật về năng lượng tái tạo: Mở khóa thể chế cho phát triển xanh trong thời đại số
Năng lượng tái tạo đang xu hướng chuyển dịch năng lượng toàn cầu không chỉ là bài toán công nghệ, mà là phép thử năng lực kiến tạo pháp luật, quản trị rủi ro và bảo đảm công bằng phát triển.
-
Hoàn thiện khung pháp luật năng lượng tái tạo: Yêu cầu cấp thiết trong tiến trình chuyển đổi xanh
-
Trách nhiệm chủ đầu tư - Không thể biến sai phạm đất đai thành “việc đã rồi”
-
Dấu ấn nhiệm kỳ - Tư duy nhiệm kỳ
Toàn cảnh Hội thảo “Năng lượng tái tạo: Khung pháp luật quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh”.
Sáng 6/5/2026, nổ hũ club Đại học Luật Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học cấp nổ hũ club với chủ đề “Năng lượng tái tạo: Khung pháp luật quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh”. Sự kiện do Bộ môn Công pháp quốc tế, Khoa Pháp luật quốc tế phụ trách nội dung, được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến, dưới sự chủ trì của TS. Hoàng Xuân Châu, Phó Hiệu trưởng nổ hũ club Đại học Luật Hà Nội và TS. Trần Minh Ngọc, Trưởng Khoa Pháp luật quốc tế. Hội thảo có sự tham gia của GS.TS. Nguyễn Hồng Thao - Thành viên Ủy ban Pháp luật quốc tế của Liên Hợp quốc bằng hình thức trực tuyến vànhiều chuyên gia, nhà khoa học, đại diện cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo trong lĩnh vực pháp luật, môi nổ hũ club, năng lượng, quan hệ quốc tế. Từ các tham luận và trao đổi tại diễn đàn, một vấn đề lớn được đặt ra để năng lượng tái tạo thực sự trở thành động lực của tăng trưởng xanh, Việt Nam cần một hệ thống pháp luật đủ đồng bộ, minh bạch, ổn định và có năng lực điều tiết các quan hệ phát triển mới trong thời đại số.
Phát biểu khai mạc hội thảo, TS. Hoàng Xuân Châu nhấn mạnh, chuyển dịch sang năng lượng tái tạo là “xu hướng tất yếu toàn cầu”, đồng thời là giải pháp then chốt để Việt Nam thực hiện cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều nút thắt về cơ chế, chính sách, đòi hỏi phải khẩn trương hoàn thiện hành lang pháp lý để tháo gỡ vướng mắc.
TS. Hoàng Xuân Châu – Phó Hiệu trưởng nổ hũ club Đại học Luật Hà Nội phát biểu khai mạc Hội thảo.
Nhận định này đặt vấn đề năng lượng tái tạo vào đúng bản chất của nó: đây không còn là câu chuyện riêng của ngành điện, càng không chỉ là sự thay thế nguồn năng lượng hóa thạch bằng điện gió, điện mặt trời hay các nguồn năng lượng mới. Đó là quá trình tái cấu trúc mô hình phát triển, trong đó pháp luật phải đi trước một bước để thiết lập trật tự, phân bổ quyền lợi, kiểm soát rủi ro và tạo lập niềm tin cho nhà đầu tư, cộng đồng, thị nổ hũ club.
Từ lợi thế tự nhiên đến yêu cầu kiến tạo thể chế
Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển năng lượng tái tạo, nhất là điện gió, điện mặt trời và điện gió ngoài khơi. Song, lợi thế tự nhiên không tự động chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh nếu thiếu một hành lang pháp lý đủ rõ ràng, ổn định và có khả năng dự báo. Trong lĩnh vực năng lượng, sự chậm trễ hoặc thiếu nhất quán của chính sách có thể làm tăng chi phí đầu tư, kéo dài thời gian triển khai dự án và làm suy giảm niềm tin của thị nổ hũ club.
GS.TS. Lê Hồng Hạnh – Giảng viên Cao cấp, nguyên Phó hiệu trưởng nổ hũ club Đại học Luật Hà Nội phát biểu ý kiến tại Hội thảo.
Tại hội thảo, GS.TS. Lê Hồng Hạnh, Giảng viên cao cấp, nguyên Phó Hiệu trưởng nổ hũ club Đại học Luật Hà Nội, cho rằng Việt Nam đang sở hữu tiềm năng điện gió, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, thuộc hàng dồi dào nhất khu vực. Đây là lợi thế tự nhiên quan trọng để thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và hiện thực hóa mục tiêu Net-Zero. Tuy nhiên, dưới lăng kính pháp lý, “nút thắt” rủi ro lớn nhất đối với nhà đầu tư hiện nay nằm ở vấn đề quy hoạch và cấp phép vị trí đặt trạm.
Đây là cảnh báo có ý nghĩa chính sách sâu sắc. Nhà đầu tư không chỉ cần ưu đãi, mà cần sự chắc chắn pháp lý. Một dự án năng lượng tái tạo có thể phụ thuộc vào rất nhiều tầng quy định: quy hoạch điện, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch không gian biển, cơ chế đấu thầu, cấp phép khảo sát, giao khu vực biển, đánh giá tác động môi nổ hũ club, đấu nối lưới điện, hợp đồng mua bán điện, cơ chế giá, trách nhiệm tháo dỡ và xử lý thiết bị sau vòng đời dự án. Nếu các tầng pháp lý này thiếu liên thông, dự án sẽ đứng trước rủi ro “đúng ở quy hoạch này nhưng vướng ở quy hoạch khác”, “đủ điều kiện đầu tư nhưng thiếu cơ chế vận hành”, hoặc “có tiềm năng thị nổ hũ club nhưng chưa có bảo đảm pháp lý”.
TS. Nguyễn Sỹ Linh, Trưởng Ban Biến đổi khí hậu thuộc Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi nổ hũ club, Bộ Nông nghiệp và Môi nổ hũ club, nhận định Việt Nam có lợi thế địa chính trị và tự nhiên để trở thành trung tâm năng lượng tái tạo của khu vực; trong đó điện gió, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, có thể giữ vai trò là “trục xương sống” cho chiến lược chuyển đổi xanh. Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh, hoàn thiện pháp luật không thể chỉ dừng lại ở các ưu đãi kinh tế, mà phải chuyển trọng tâm sang quản trị rủi ro và bảo vệ môi nổ hũ club bền vững.
TS. Phạm Văn Hiếu - Bộ Nông nghiệp và Môi nổ hũ club – trình bày tham luận: “Khung pháp lý cho điện gió tại Việt Nam và những vấn đề đặt ra trong bối cảnh chuyển đổi xanh và quy hoạch không gian biển”.
Ở góc độ quy hoạch không gian biển, TS. Phạm Văn Hiếu chỉ ra thách thức lớn từ việc các lô điện gió có sự chồng lấn với khu vực quốc phòng, an ninh và vùng nuôi trồng thủy sản. Vấn đề không đơn thuần là kỹ thuật quy hoạch, mà là xung đột lợi ích giữa an ninh năng lượng, an ninh quốc phòng, sinh kế cộng đồng và bảo vệ tài nguyên biển. Khi chưa có cơ chế ưu tiên rõ ràng, chưa có khung tiêu chuẩn đủ cụ thể để phân định quyền khai thác, quá trình cấp phép và triển khai dự án rất dễ bị kéo dài, thậm chí phát sinh tranh chấp.
Từ thực tiễn đó, yêu cầu cấp thiết là phải tích hợp phát triển điện gió, nhất là điện gió ngoài khơi, vào Quy hoạch không gian biển quốc gia như một cấu phần chiến lược. Cùng với đó, cần thiết lập cơ chế điều phối cấp cao để xử lý các xung đột lợi ích liên ngành, liên vùng, liên chủ thể. Pháp luật trong lĩnh vực này phải làm được ba việc: xác định rõ quyền, trách nhiệm và trình tự; bảo đảm hài hòa giữa phát triển và an ninh; đồng thời tạo ra môi nổ hũ club đầu tư có tính ổn định dài hạn.
Pháp luật xanh phải bảo đảm công bằng, trách nhiệm và chuẩn mực quốc tế
Một điểm nổi bật của hội thảo là cách tiếp cận năng lượng tái tạo không bị giới hạn trong phạm vi sản xuất điện sạch. Các ý kiến đã mở rộng vấn đề sang trách nhiệm môi nổ hũ club, công bằng năng lượng, chuẩn mực ESG, kinh tế tuần hoàn, bảo hộ đầu tư, chuyển giao công nghệ và xử lý rủi ro cuối vòng đời dự án. Đây là cách tiếp cận phù hợp với yêu cầu xây dựng pháp luật hiện đại: không chỉ khuyến khích phát triển, mà còn phải kiểm soát hệ quả của phát triển.
PGS.TS. Đinh Ngọc Vượng, nguyên Phó Viện trưởng Viện Từ điển và Bách khoa thư Việt Nam, cho rằng phát triển các nguồn năng lượng mới ở Việt Nam cần được đặt trong một hành lang pháp lý đa dạng và đồng bộ. Từ điện rác, hydro, amoniac xanh đến điện hạt nhân đều đặt ra yêu cầu nội hóa các tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là các tiêu chuẩn của IAEA về an toàn, an ninh và trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại xuyên biên giới theo Công ước Vienna.
PGS.TS. Đinh Ngọc Vượng phát biểu tại Hội thảo.
Theo PGS.TS. Đinh Ngọc Vượng, tiến trình này cần tích hợp chặt chẽ các tiêu chuẩn ESG, cơ chế bảo hộ đầu tư ổn định để tránh tranh chấp trọng tài quốc tế, đồng thời thúc đẩy chuyển giao công nghệ sạch thông qua mạng lưới các hiệp định thương mại tự do.
Gợi mở này cho thấy, hoàn thiện pháp luật năng lượng tái tạo không thể chỉ dừng ở sửa đổi một vài quy định chuyên ngành. Việt Nam cần một tư duy thể chế tổng hợp, trong đó pháp luật về năng lượng, môi nổ hũ club, đầu tư, đất đai, biển, khoa học công nghệ, chuyển đổi số và thương mại quốc tế phải được kết nối thành một chỉnh thể. Nếu thiếu sự đồng bộ này, chính sách năng lượng xanh có thể rơi vào tình trạng “mục tiêu cao nhưng công cụ yếu”, “cam kết mạnh nhưng thực thi phân tán”.
Từ chiều cạnh xã hội, PGS.TS. Lê Thị Anh Đào nhấn mạnh, chuyển dịch năng lượng tái tạo không chỉ là thay đổi về công nghệ hay kinh tế, mà là quá trình tái cấu trúc xã hội dựa trên nguyên tắc “công bằng năng lượng”. Chuyển đổi xanh đem lại lợi ích chiến lược cho cộng đồng và thế hệ tương lai, tạo cơ hội cho nhà đầu tư xanh, nhưng cũng đặt ra thách thức đối với lao động trong ngành năng lượng truyền thống và các nhóm dân cư yếu thế tại khu vực dự án.
Đây là vấn đề có ý nghĩa pháp lý đặc biệt. Pháp luật năng lượng tái tạo trong giai đoạn mới không thể chỉ bảo vệ quyền của nhà đầu tư hay mục tiêu tăng trưởng công suất nguồn điện, mà còn phải bảo vệ quyền được tham gia, quyền được thông tin, quyền được hưởng lợi và quyền được bảo vệ của cộng đồng chịu tác động. Cơ chế tham vấn người dân, đánh giá tác động môi nổ hũ club, chia sẻ lợi ích, hỗ trợ chuyển đổi sinh kế, bảo vệ nhóm yếu thế cần được thiết kế thành nghĩa vụ pháp lý cụ thể, không chỉ là khuyến nghị chính sách.
Ở khía cạnh kinh tế tuần hoàn, NCS. ThS. Nguyễn Thi, giảng viên nổ hũ club Đại học Tài nguyên và Môi nổ hũ club, cho rằng quản lý pin năng lượng mặt trời hết hạn cần chuyển từ tư duy loại bỏ rác thải nguy hại sang tiếp cận đây là nguồn tài nguyên có thể tái chế, tái sử dụng trong nền kinh tế tuần hoàn. Điều này đòi hỏi tiêu chuẩn kỹ thuật về tái chế chuyên sâu, đồng thời ràng buộc trách nhiệm tài chính của chủ đầu tư ngay từ khâu phê duyệt dự án.
Quan điểm này đặc biệt quan trọng trong thời đại số. Khi dữ liệu, công nghệ truy xuất nguồn gốc, hồ sơ điện tử dự án và nền tảng giám sát trực tuyến ngày càng phát triển, Nhà nước có điều kiện để quản lý toàn bộ vòng đời dự án năng lượng tái tạo: từ cấp phép, đầu tư, vận hành, đấu nối, đánh giá tác động môi nổ hũ club đến tháo dỡ, tái chế và phục hồi không gian sử dụng. Vì vậy, pháp luật năng lượng tái tạo cần gắn với chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, bảo đảm mọi hoạt động phát triển xanh đều có dữ liệu, có trách nhiệm, có giám sát và có khả năng kiểm chứng.
Phát biểu kết thúc hội thảo, TS. Trần Minh Ngọc khẳng định đây là diễn đàn khoa học chất lượng, lan tỏa giá trị pháp lý, cung cấp tài liệu và gợi mở các hướng nghiên cứu mới cho hoạt động nghiên cứu chuyên sâu, giảng dạy và tham vấn chính sách trong thời gian tới.
TS. Trần Minh Ngọc phát biểu bế mạc Hội thảo.
TS. Trần Minh Ngọc cảm ơn sự tham dự và trao đổi của các diễn giả, các đại biểu cùng các học viên, sinh viên. Hội thảo kết thúc vào lúc 12h00 cùng ngày trong không khí khoa học, nghiêm túc và hiệu quả.
Từ các trao đổi tại hội thảo có thể khẳng định, hoàn thiện hệ thống pháp luật về năng lượng tái tạo là yêu cầu cấp thiết của tiến trình phát triển xanh. Một hành lang pháp lý minh bạch, đồng bộ và tương thích với chuẩn mực quốc tế sẽ là điều kiện để Việt Nam chuyển hóa tiềm năng thành năng lực cạnh tranh, biến cam kết Net-Zero thành hành động thực chất, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, an ninh năng lượng, bảo vệ môi nổ hũ club và công bằng xã hội.
Trong thời đại số, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý, mà còn là hạ tầng mềm của phát triển. Với năng lượng tái tạo, hạ tầng ấy càng phải được thiết kế đủ mở để đón nhận đổi mới công nghệ, đủ chặt để kiểm soát rủi ro, đủ minh bạch để thu hút đầu tư và đủ nhân văn để không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi xanh.
Các chuyên gia, đại biểu tham dự Hội thảo chụp ảnh lưu niệm.
Nguồn: Hoàn thiện pháp luật về năng lượng tái tạo: Mở khóa thể chế cho phát triển xanh trong thời đại số

